Mã tài liệu: 297733
Số trang: 104
Định dạng: pdf
Dung lượng file: 1,035 Kb
Chuyên mục: Sư phạm
MS: LVQLGD051
SỐ TRANG: 104
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
TRƯỜNG: ĐHSP TPHCM
NĂM: 2009
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đảng ta đã khẳng định “Giáo dục là sự nghiệp của toàn dân”. Điều 3 chương I, Luật giáo
dục 2005 ghi rõ: “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành,
giáo dục phải kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường
kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”. Điều 93 đến điều 98 chương VI cuõng đã qui
định trách nhiệm của nhà trường, gia đình, xã hội đối với công tác giáo dục và đã thể hiện ý
nghĩa quan trọng của sự phối hợp nhà trường-gia đình - xã hội . Sự phối hợp nhà trường -
gia đình - xã hội nếu được thực hiện một cách đồng bộ thì hiệu quả giáo dục sẽ nâng lên, ngược
lại sự phối hợp này không ăn khớp thì sẽ gây cản trở hoặc khó khăn trong quá trình hình thành
nhân cách học sinh.
Một trong những đặc điểm của quá trình giáo dục là quá trình giáo dục diễn ra với những
tác động giáo dục phức hợp. Trong quá trình giáo dục người được giáo dục chịu nhiều tác động
từ các phía khác nhau: gia đình, nhà trường, xã hội. Ngay trong gia đình, nhà trường hoặc xã
hội, người được giáo dục cũng chịu ảnh hưởng của nhiều tác động khác nhau. Ví như trong gia
đình có những tác động của cha mẹ, của anh chị em, của nếp sống gia đình…. Trong nhà
trường có những tác động của giáo viên, của tập thể lớp, của nội qui, của nội dung, phương
pháp tổ chức giáo dục… Trong xã hội có những tác động của các cơ quan thông tin đại chúng,
của phim ảnh, sách báo, của người lớn… Những tác động đó có thể đan kết vào nhau rất mật
thiết tạo ra những ảnh hưởng tích cực thống nhất đối với người được giáo dục, hoặc có thể
ngược chiều nhau tạo ra những “lực nhiễu” gây khó khăn cho quá trình giáo dục. Vì vậy, vấn đề
đặt ra là cần tổ chức phối hợp tất cả các tác động giáo dục theo hướng tích cực, đồng thời cần
ngăn chặn, hạn chế đến mức tối đa những tác động tiêu cực.
Thực tiễn giáo dục cho thấy nhận thức về sự phối hợp nhà trường - gia đình chưa đúng.
Một số bậc phụ huynh còn xem nhà trường là môi trường giáo dục duy nhất cho trẻ, vì vậy trẻ
hư thì đỗ lỗi hoàn toàn cho nhà trường là “thầy cô dạy như thế…!”, hoặc đỗ lỗi cho xã hội “xã
hội quá nhiều tiêu cực, cạm bẫy làm cho con tôi hư….”. Một bộ phận giáo viên ở các trường
học thì chỉ tập trung cho chất lượng học tập, xem nhẹ giáo dục đạo đức, dẫn đến chỉ biết đỗ lỗi
cho gia đình và xã hội, chưa thấy mối quan hệ giữa nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục, chưa kết
hợp “dạy chữ” với “dạy người”. Các lực lượng xã hội lại luôn kêu ca là nhà trường, gia đình
chưa có giải pháp cho giáo dục, đưa ra xã hội nhiều “phế phẩm”, “sản phẩm của giáo dục chưa
đáp ứng nhu cầu xã hội….”. Việc đoã lỗi cho nhau giữa ba lực lượng trên xuất phát từ sự phối hợp lỏng lẻo giữa nhà trường - gia đình - xaõ hoäi, là hiện tượng “ trống đánh xuôi kèn thổi
ngược”. Đây chính là thực trạng của nhiều địa phương trên đất nước ta và chính là nỗi bức xúc
của nhiều nhà sư phạm, nhà nghiên cứu giáo dục. Nếu sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã
hội được tốt hơn thì những khó khăn trong giáo dục chắc rằng sẽ được hạn chế, những tồn tại
được đẩy lùi. Trong thực tế, sự phối hợp nhà trường - gia đình ở đây thực ra chỉ có tính bề nổi,
còn rất nhiều hạn chế, đặc biệt là giải pháp phối hợp như thế nào để đạt hiệu quả, thường xuyên
và đồng bộ.
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Thực
trạng quản lý sự phối hợp nhà trường-gia đình trong công tác giáo dục học sinh ở các trường
trung học phổ thông huyện Cần Đước, tỉnh Long An”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm đánh giá đúng thực trạng quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình trong
công tác giáo dục học sinh ở các trường THPT huyện Cần Đước, tỉnh Long An, từ đó đề xuất
các biện pháp quản lý sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình, góp phần nâng cao chất lượng
và hiệu quả công tác quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình nói riêng và công tác giáo dục
nói chung.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động giáo dục học sinh ở trường THPT
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình trong công tác giáo dục học sinh ở
các trường THPT huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
4. Giả thuyết khoa học
Sự phối hợp nhà trường - gia đình và công tác quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình
trong công tác giáo dục học sinh ở các trường THPT huyện Cần Đước, tỉnh Long An đã được
thực hiện nhưng còn hình thức, lỏng lẻo nên hiệu quả không cao. Việc đánh giá được thực trạng
này ở địa phương để làm cơ sở xây dựng những biện pháp quản lý phù hợp, đồng bộ góp phần
nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục học sinh ở các trường THPT trong giai đoạn mới.
5 . Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phối hợp nhà trường - gia đình trong
công tác giáo dục học sinh ở trường trung học phổ thông.
5.2. Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình
trong công tác giáo dục học sinh ở trường THPT huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
5.3. Đề xuất các biện pháp quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình trong công tác giáo
dục học sinh ở trường trung học phổ thông.
6 . Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình trong công tác giáo dục
học sinh ở các trường trung học phổ thông thuộc huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận
- Tiếp cận hệ thống - cấu trúc: là cách thức nghiên cứu đối tượng như một hệ thống toàn
vẹn, phát triển động, tự hình thành và phát triển thông qua việc giải quyết mâu thuẫn nội tại do
sự tương tác hợp quy luật của các thành tố tạo ra. Qua đó phát hiện các yếu tố sinh thành, yếu tố
bản chất và lôgic phát triển của đối tượng trở thành hệ toàn vẹn, tích hợp mang chất lượng mới.
- Tiếp cận quan điểm lịch sử: khi xem xét sự vật hay một hiện tượng, chúng ta thường
xem xét quá trình lịch sử của nó. Từ đó thấy được mối quan hệ giữa quá khứ, hiện tại và tương
lai của đối tượng nghiên cứu.
- Tiếp cận quan điểm thực tiễn: việc đề ra các biện pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu
quả công tác quản lý sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình, dựa trên khảo sát thực trạng quản
lý sự phối hợp đó ở các trường THPT. Qua khảo sát, phát hiện những mặt mạnh, mặt yếu,
những nguyên nhân hạn chế, từ đó đề ra các biện pháp mang tính khả thi hơn.
7.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa những vấn đề lý luận trong các công trình khoa học,
trong văn kiện của Đảng, luật pháp của Chính Phủ, các chỉ đạo của ngành giáo dục, sách và tạp
chí chuyên ngành giáo dục… nhằm xác lập cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu.
7.2.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1. Phương pháp điều tra giáo dục
- Phương pháp điều tra bằng phiếu: Tác giả sử dụng bộ điều tra bằng bảng câu hỏi cho hai
nhóm đối tượng: + Nhóm 1 bao gồm cán bộ quản lý và giáo viên (mẫu 1: Phiếu điều tra dành cho cán bộ
quản lý, giáo viên có 180 phiếu)
+ Nhóm 2 gồm cha mẹ học sinh (mẫu 2: Phiếu điều tra dành cho cha mẹ học sinh có 120
phiếu)
Các số liệu điều tra sẽ là những thông tin quan trọng để đề xuất những giải pháp khoa học
có tính thực tiễn.
7.2.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Tác giả phỏng vấn trực tiếp các nhóm đối tượng bao gồm: Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng,
giáo viên chủ nhiệm, cha mẹ học sinh nhằm thu thập thông tin về quản lý hoạt động phối hợp
nhà trường - gia đình ở các trường THPT.
7.2.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp này nhằm thu thập thông tin về quản lý hoạt động phối hợp nhà trường - gia
đình ở các trường THPT.
7.2.2.4. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Mục đích phương pháp là xin ý kiến của một số nhà quản lý giáo dục có kinh nghiệm, nhà
lãnh đạo giáo dục và các chuyên viên, nhằm hiểu rõ thực trạng và một số đề xuất hợp lý.
7.2.3. Phương pháp thống kê toán học (xử lý thông tin)
Phương pháp này nhằm xử lý kết quả nghiên cứu thực trạngvà nguyên nhân của thực trạng,
làm cơ sở đề xuất các biện pháp. Để xử lý số liệu điều tra tác giả dùng phương pháp thống kê
toán học, xử lý số liệu trên phần mềm (SPSS) để tính về số liệu phần trăm, điểm trung bình, từ
đó phân tích, đánh giá nhằm đưa ra những kết luận phù hợp
Những tài liệu gần giống với tài liệu bạn đang xem
📎 Số trang: 128
👁 Lượt xem: 707
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 16
👁 Lượt xem: 553
⬇ Lượt tải: 20
📎 Số trang: 143
👁 Lượt xem: 363
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 135
👁 Lượt xem: 384
⬇ Lượt tải: 17
📎 Số trang: 80
👁 Lượt xem: 990
⬇ Lượt tải: 20
📎 Số trang: 104
👁 Lượt xem: 623
⬇ Lượt tải: 17
📎 Số trang: 95
👁 Lượt xem: 555
⬇ Lượt tải: 19
📎 Số trang: 157
👁 Lượt xem: 1000
⬇ Lượt tải: 22
📎 Số trang: 119
👁 Lượt xem: 490
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 17
👁 Lượt xem: 435
⬇ Lượt tải: 22
📎 Số trang: 105
👁 Lượt xem: 824
⬇ Lượt tải: 17
📎 Số trang: 94
👁 Lượt xem: 622
⬇ Lượt tải: 17
Những tài liệu bạn đã xem
📎 Số trang: 104
👁 Lượt xem: 1343
⬇ Lượt tải: 18
📎 Số trang: 62
👁 Lượt xem: 457
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 12
👁 Lượt xem: 394
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 28
👁 Lượt xem: 370
⬇ Lượt tải: 16