Mã tài liệu: 55298
Số trang: 113
Định dạng: docx
Dung lượng file: 1,272 Kb
Chuyên mục: Quản trị kinh doanh
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đời sống của con người cũng được nâng cao và xu hướng tiêu dùng của người dân cũng dần dần thay đổi. Mọi người chuyển sang dùng hàng cao cấp nhiều hơn hàng thứ cấp, nhu cầu ăn uống cũng trở lên phức tạp hơn. Vấn đề ăn ngon, ăn những thức ăn đảm bảo chất lượng được các bà nội trợ đặc biệt quan tâm, nhưng không gia đình nào bỏ qua món rau trong các bữa ăn và không thể không ăn rau liên tục trong vài bữa cơm, mặc dù rau được coi là một món ăn rất đạm bạc. Vì sao lại như vậy? Bởi vì, rau xanh có một ý nghĩa rất quan trọng đối với con người. Nó cung cấp nguồn dinh dưỡng, nguồn vitamin dồi dào cho cơ thể. Ông cha ta đã có câu “Ăn cơm không rau như đau không thuốc”.
Cùng với nhịp sống đô thị hóa, số gia đình thoát ly khỏi môi trường nhà ở có vườn rau, ao cá ngày một nhiều, thêm vào đó, đời sống công nghiệp buộc rất nhiều người không còn thời gian dành cho việc tự cấy trồng và có cầu ắt phải có cung. Thị trường rau xanh đã hình thành rất đa dạng, đi cùng với đó là những vùng sản xuất rau khá phong phú, cũng như hệ thống thị trường tiêu thụ rau rộng khắp nơi với nhiều loại hình tiêu thụ như chợ nông thôn, chợ bán buôn, chợ bán lẻ, siêu thị, cửa hàng, trường học, nhà hàng, khách sạn. Các loại hình này có thể hoạt động độc lập, có thể liên kết với nhau thành chuỗi cung ứng hàng hoá, dịch vụ.
Với truyền thống thâm canh trong nông nghiệp, Thái Bình không chỉ đạt tới đỉnh cao năng suất lúa 12 -13 tấn/ha, mà còn là một trong những địa phương sản xuất rau màu với sản lượng lớn; mỗi năm tiêu thụ ở các tỉnh bạn 400 – 500 tấn rau. Quy hoạch phát triển rau, màu của Thái Bình đến hết 2010 cho thấy: 76% diện tích đất cây trồng hàng năm (70.315 ha) là đất cát đến thịt nhẹ có khả năng phát triển sản xuất rau màu các vụ trong năm; 3 mặt giáp sông thuận lợi cho 100% diện tích sử dụng nước tưới sông Hồng và sông Trà Lý. Theo thống kê hàng năm, chủng loại rau sản xuất khá phong phú, các nhóm rau có chất lượng, giá trị kinh tế cao ngày càng được đưa vào sản xuất nhiều, như: dưa chuột, dưa hấu, dưa gang, ớt, khoai tây xuân, cà chua, hành tỏi, bắp cải, cải cuốn, su hào… Điều đáng ghi nhận hơn là diện tích sản xuất rau tập trung 5 – 6 vụ/năm phân bố trên địa bàn rộng khắp các huyện, thành phố. Sản lượng rau của tỉnh được đưa đi tiêu thụ không những trong khu vực nội tỉnh, mà còn được đưa đi các tỉnh bạn và ngày càng được các tỉnh bạn đón nhận.
Kết cấu đề tài:
1. Mở đầu
2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về hệ thống thị trường tiêu thụ rau
3. Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những tài liệu gần giống với tài liệu bạn đang xem
📎 Số trang: 337
👁 Lượt xem: 282
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 77
👁 Lượt xem: 704
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 73
👁 Lượt xem: 369
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 81
👁 Lượt xem: 363
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 127
👁 Lượt xem: 389
⬇ Lượt tải: 18
📎 Số trang: 63
👁 Lượt xem: 517
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 42
👁 Lượt xem: 303
⬇ Lượt tải: 17
📎 Số trang: 77
👁 Lượt xem: 400
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 34
👁 Lượt xem: 359
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 61
👁 Lượt xem: 353
⬇ Lượt tải: 17
📎 Số trang: 165
👁 Lượt xem: 683
⬇ Lượt tải: 19
📎 Số trang: 60
👁 Lượt xem: 513
⬇ Lượt tải: 16
Những tài liệu bạn đã xem
📎 Số trang: 113
👁 Lượt xem: 567
⬇ Lượt tải: 16