Đề cương ôn tập
luật hình sự, luật tè tông hình sự
Phần luật hình sự
Câu 1: Đồng chí hãy nêu và phân tích những nguyên tắc cơ bản của Luật hình sự Việt Nam? (Nếu đề thi yêu cầu phân tích tất cả các nguyên tắc thì phải lược bá bít phần phân tích ở mỗi nguyên tắc, chỉ nêu những ý chung khái quát. Bài làm dưới đây phân tích sâu tất cả các nguyên tắc đề phòng trường hợp đề thi hái sâu về một nguyên tắc)
Những nguyên tắc của mỗi ngành luật là những tư tưởng chỉ đạo, xuyên suốt trong quá trình xây dựng và áp dụng của ngành luật đó. Nội dung những nguyên tắc trong mỗi ngành luật phụ thuộc vào đối tượng điều chỉnh của ngành luật đó. Nếu đối tượng điều chỉnh của Luật hình sự là những quan hệ xã hội phát sinh giữa nhà nước và người phạm tội thì nguyên tắc cuả Luật hình sự phải đảm bảo quyền lợi của Nhà nước và phản ánh bản chất của chế độ.
Nhưng thông qua các quy định của các Bộ luật, tại các Điều 2, 3, 4, 8 ta thấy những nguyên tắc cơ bản của Luật hình sự là:
+ Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.
+ Nguyên tắc dân chủ bình đẳng xã hội chủ nghĩa.
+ Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa .
+ Nguyên tắc chủ nghĩa yêu nước và đoàn kết quốc tế.
Nguyên tắc pháp chế XHCN là nguyên tắc cơ bản trong toàn bộ hoạt động của Nhà nước được quy định trong Điều 12 Hiến pháp 1992: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”.
Mọi hành động xâm phạm lợi Ých của Nhà nước, quyền và lợi Ých tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật. chúng ta hiểu pháp chế nh thế nào? Khi đề cập đến pháp chế là nói đến mối quan hệ qua lại cả hai phía:
+ Thứ nhất, trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo đầy đủ hệ thống pháp luật;
+ Thứ hai, trách nhiệm của mỗi cơ quan nhà nước, tổ chức và công dân phải tuân thủ triệt để pháp luật của Nhà nước đã ban hành.
Ngoài ra để đảm bảo cho Hiến pháp và pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh, phải xử lý nghiêm khắc mọi hành vi vi phạm Hiến pháp và pháp luật.
Trong lĩnh vực Luật hình sự, xuất phát từ cơ sở trách nhiệm hình sự: Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ Luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 2-BLHS).
Như vậy, một người không phải chịu trách nhiệm hình sự khi thực hiện một hành vi, mà hành vi đó không phạm vào một điều luật do Luật hình sự quy định, cho dù hành vi đó có nguy hiểm đến mức nào chăng nữa. Ngược lại, một người phải chịu trách nhiệm hình sự khi họ thực hiện hành vi được quy định trong Luật hình sự. Do đó, để đảm bảo không một hành vi nguy hiểm nào cho xã hội không được quy định trong Luật hình sự, trách nhiệm của Nhà nước phải kịp thời xây dựng hệ thống pháp Luật hình sự hoàn chỉnh. Khi tình hình xã hội thay đổi thì Nhà nước cũng phải kịp thời bổ sung, sửa đổi những quy định trong Luật hình sự. Chỉ khi hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Luật hình sự thì mọi người dân mới có thể biết, mới điều chỉnh hành vi của mình theo đúng quy định của Luật hình sự.
Trách nhiệm của các công dân phải triệt để tuân thủ pháp Luật hình sự. Không được thực hiện các hành vi mà pháp Luật hình sự cấm thực hiện và ngược lại, thực hiện các hành vi mà Luật hình sự buộc phải thực hiện. Để đảm bảo cho Luật hình sự được thi hành nghiêm chỉnh, Nhà nước giao cho các cơ quan tư pháp có trách nhiệm phát hiện và xử lý kịp thời đối với mọi hành vi phạm pháp Luật hình sự, không một tội phạm nào không bị phát hiện và có thể tránh khỏi hình phạt. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải triệt để tuân thủ pháp luật khi ra những quyết định có liên quan đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự, đến việc quyết định hình phạt và thi hành bản án hình sự đối với một người, đảm bảo một người không thể xử lý oan, sai mà dẫn đến gây thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần cho họ. Đồng thời nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi những người làm luật và những người thi hành luật từ khi xây dựng các quy định trong Luật hình sự phải tuyệt đối chính xác để mọi hành vi xâm phạm vào lợi Ých của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi Ých hợp pháp của công dân đều bị xử lý theo pháp luật.
Xử lý kịp thời tội phạm và người phạm tội không chỉ có tác dụng ngăn chặn tội phạm xảy ra, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc xác lập trật tự, kỷ cương xã hội, không để trong xã hội có tâm lý coi thường pháp luật, xâm phạm pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Nguyên tắc dân chủ, bình đẳng xã hội chủ nghĩa.Trong Điều 5 Hiến pháp 1992 quy định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc”.
Trong Luật hình sự, nguyên tắc dân chủ bình đẳng XHCN được thể hiện:
+ Luật hình sự tôn trọng và bảo vệ quyền tự do dân chủ, bình đẳng của các công dân trên tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội. Mọi hành vi xâm phạm vào các quyền nói trên đều bị trừng trị;
+ Trong Luật hình sự, mọi công dân có quyền ngang nhau không phân biệt đối xử, không miễn trừ ai, không phân biệt đặc điểm cá nhân và thành phần xã hội;
+ Luật hình sự Việt Nam có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt vùng, miền tỉnh, thành phố...
+ Luật hình sự đảm bảo cho mọi công dân tham gia xây dựng pháp luật hình sự, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật hình sự, tố giác với các cơ quan có thẩm quyền về các hành vi vi phạm pháp luật hình sự.
Ngoài ra nguyên tắc dân chủ, bình đẳng trong Luật hình sự còn được thể hiện trong việc xác định trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với người thực hiện tội phạm. Có nghĩa rằng, một người, không kể người đó giữ chức vụ cương vị gì, có thành phần xã hội hay trong dân tộc nào khi thực hiện hành vi nguy hiểm được quy định trong Luật hình sự thì không thể tránh khỏi trách nhiệm hình sự và hình phạt.
Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa.Nhà nước luôn coi mọi công dân Việt Nam, dù họ là người phạm tội thì họ vẫn là một thành viên của xã hội, của gia đình họ. Vì vậy, khi tuyên bố mét người nào đó phạm tội và Ên định hình phạt đối với họ, Nhà nước luôn xem xét trên nhiều khía cạnh về những đặc điểm nhân thân, hoàn cảnh gia đình, đặc điểm tâm lý để quyết định hình phạt cho phù hợp. Chính vì vậy, nguyên tắc này được xuất phát từ quan điểm đạo đức xã hội chủ nghĩa trong truyền thống dân tộc Việt Nam.
Nguyên tắc nhân đạo được thể hiện trong Điều 3 bộ Luật hình sự. Ngoài ra trong bộ Luật có nhiều quy định khác liên quan đến quan điểm của Nhà nước và xã hội đối với người phạm tội. Đối với người phạm tội. Nhà nước áp dụng các biện pháp cưỡng chế không phải vì để trả thù mà để cho người phạm tội hiểu được mức độ sai lầm của mình để họ tự cải tạo trở thành công dân có Ých cho xã hội.
Nguyên tắc nhân đạo XHCN được thể hiện:
+ Khoan hồng đối với người nhất thời phạm tội Ýt nghiêm trọng, những người tự thú, thật thà khai báo, tố giác đồng bọn, lập công chuộc tội, tự nguyên bồi thường thiệt hại đã gây ra... Trong trường hợp này, Nhà nước cho phép áp dụng hình phạt nhẹ hoặc nhẹ hơn hình phạt tù, hoặc có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn mức tối thiểu, hoặc chuyển hình thức xử lý tõ hình sự sang hình thức xử lý khác như giao cho cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, gia đình giám sát, giáo dục.
+ Đối với những người bị kết án tù giam, đang trong thời gian chấp hành hình phạt họ có thể được giảm thời hạn