Mã tài liệu: 238095
Số trang: 5
Định dạng: docx
Dung lượng file: 26 Kb
Chuyên mục: Triết học
[FONT="]
Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra những luận giải khoa học nhằm làm rõ thêm những tư tưởng triết học Phật giáo trong “Chiếu dời đô” của Lý Công Uẩn. “Chiếu dời đô”, theo tác giả, một mặt, cho thấy tư duy triết học sâu sắc của Lý Công Uẩn về mối quan hệ giữa đế đô với vận mệnh và sự phát triển của đất nước; mặt khác, thể hiện tầm nhìn và phong cách dân chủ của người đứng đầu Nhà nước chính trị phong kiến Việt Nam thời đó.[FONT="]
[FONT="]Ngày 2 tháng 11 năm Kỷ Dậu (tức ngày 21 tháng 11 năm 1009), được sự ủng hộ của giới Phật giáo đứng đầu là sư Vạn Hạnh cùng các triều thần, Lý Công Uẩn đã lên ngôi Hoàng đế. Ông thấy Hoa Lư chật hẹp, kinh tế nông - công - thương còn thấp kém, giao thông vận tải gặp rất nhiều khó khăn, không đủ làm chỗ ở của đế vương, nên muốn dời đô đi nơi khác. Bởi vậy, công việc lớn đầu tiên là dời đô ra Đại La. Đầu năm 1010, Lý Công Uẩn viết Chiếu dời đô(1). Mùa thu, tháng 7, ông dời Kinh đô từ thành Hoa Lư sang Đại La của Kinh phủ. Thuyền tạm đỗ ở dưới thành, có rồng vàng hiện ra ở thuyền ngự, vì thế Đại La được đổi thành Thăng Long(2). [FONT="]
[FONT="]Chiếu dời đô[FONT="] có nội dung phiên âm Hán -Việt như sau:[FONT="]
[FONT="]“Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam tỉ. Khởi Tam Đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự thiên tỉ. Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế; thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cẩu hữu tiện triếp cải. Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ. Nhi Đinh Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí thế đại phất trường, toán số đoản xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghi. Trẫm thậm thống chi, bất đắc bất tỉ. Huống Cao Vương cố đô Đại La thành, trạch thiên địa khu vực chi trung; đắc long bàn hổ cứ chi thế. Chính Nam Bắc Đông Tây chi vị; tiện giang sơn hướng bối chi nghi. Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải. Dân cư miệt hôn điếm chi khốn; vạn vật cực phồn phụ chi phong. Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa. Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội; vi vạn thế đế vương chi thượng đô. (*)[FONT="]
[FONT="]Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà?”[FONT="]
[FONT="]Nội dung trên được dịch ra tiếng Việt: “Ngày xưa nhà Thương đến Bàn Canh là năm lần dời đô, nhà Chu đến Thành Vương là ba lần dời đô, há phải là các vua đời tam đại ấy theo ý riêng mà tự dời đô bậy đâu(3), là vì mưu chọn chỗ ở chính giữa làm kế cho con cháu ức muôn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi. Bởi thế ngôi truyền dài lâu, phong tục giàu thịnh. Thế mà nhà Đinh nhà Lê lại theo lòng riêng, lơ là mệnh trời, không noi theo việc cũ nhà Thương nhà Chu, yên ở nơi quê quán, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ hao tổn, muôn vật không nên. Trẫm rất xót thương, không thể không dời đi nơi khác. Huống chi, đô cũ của Cao Vương ở thành Đại La(4), ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, ở giữa Nam - Bắc - Đông - Tây, tiện hình thế núi sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng, chỗ cao mà sáng sủa, dân cư không khổ về ngập lụt, muôn vật rất thịnh mà phồn vinh, xem khắp nước Việt, chỗ ấy là nơi hơn cả. Thực là chỗ hội họp của bốn phương, là nơi thượng đô của kinh sư muôn đời. Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà đóng đô, các khanh nghĩ thế nào?”(5).[FONT="]
[FONT="]Chiếu dời đô[FONT="] là một văn phẩm có ý nghĩa to lớn trên nhiều phương diện, từ sử học, chính trị học, văn học, địa lý học, . cho đến triết học. Ngày nay, nghiên cứu về Chiếu dời đô, dù ở góc độ khoa học nào, các nhà nghiên cứu đều có những đánh giá rất cao, rút ra được nhiều giá trị cho cả nhận thức và thực tiễn. Chiếu dời đô, một mặt, cho thấy tư duy triết học sâu sắc của Lý Công Uẩn về mối quan hệ hữu cơ giữa đế đô với tiền đồ của triều đại và cao hơn, với vận mệnh phát triển của đất nước, dân tộc Việt Nam; mặt khác, thể hiện một tầm nhìn xa, một phong cách dân chủ của người đứng đầu Nhà nước chính trị phong kiến Việt Nam thời đó. (6)[FONT="]
[FONT="]Chiếu dời đô[FONT="], từ phương diện triết học nói chung, đã thể hiện những quan điểm căn bản về thế giới quan, nhân sinh quan của triết học phương Đông cổ đại. Lý Công Uẩn vốn là một người có học, am tường cả tam giáo (Phật, Nho và Đạo), song được trưởng thành trực tiếp trên nền tảng triết lý và hành động của
Những tài liệu gần giống với tài liệu bạn đang xem
📎 Số trang: 16
👁 Lượt xem: 555
⬇ Lượt tải: 24
📎 Số trang: 16
👁 Lượt xem: 431
⬇ Lượt tải: 17
📎 Số trang: 34
👁 Lượt xem: 763
⬇ Lượt tải: 24
Những tài liệu bạn đã xem
📎 Số trang: 5
👁 Lượt xem: 499
⬇ Lượt tải: 16