Mã tài liệu: 56985
Số trang: 17
Định dạng: docx
Dung lượng file: 78 Kb
Chuyên mục: Quản trị kinh doanh
Trong thời kỳ cổ đại, việc sử dụng khoa học vào sản xuất còn ít ỏi, trồng trọt, chăn nuôi và nghề thủ công chủ yếu dựa vào tri thức kinh nghiệm. Từ thế kỷ XVII, khoa học phát triển, vai trò của khoa học ngày càng quan trọng đối với sản xuất và đời sống, nhất là trong sự phát triển của lực lượng sản xuât (LLSX), khoa học đã phát triển đến mức trở thành “Lực lượng sản xuất trực tiếp”.
Cách mạng khoa học công nghệ (KHCN) làm thay đổi tận gốc các yếu tố của LLSX. Nó tạo điều kiện tìm ra và sử dụng những nguồn năng lượng mới, chế tạo ra hàng loạt những vật liệu nhân tạo với những thuộc tính hoàn toàn mới, thực hiện tự động hoá từng phần hoặc toàn bộ quá trình sản xuất, đổi mới nhanh chóng công nghệ, tự động hoá cả các quá trình quản lý. Quá trình tự động hóa sản xuất do cuộc cách mạng KHCN đem lại đã mở ra một thời đại mới cho sự tiến bộ kỹ thuật gắn với những thành tựu khoa học trong lĩnh vực điện tử, tin học, kỹ thuật máy tính, kỹ thuật điều khiển tự động. Trong điều kiện cách mạng KHCN, máy móc ngày càng thực hiện nhiều chức năng mà trước đây chính con người phải đảm nhiệm. Vậy, tiến bộ kỹ thuật là nhân tố cực kỳ quan trọng để tăng năng suất lao động, để phát triển lực lượng sản xuất của xã hội và qua đó làm biến đổi cả bản thân con người.
Nửa sau của thế kỷ XX, nhất là trong những thập kỷ cuối, loài người đang chứng kiến những thay đổi to lớn trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội do ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của cuộc cách mạng KHCN hiện đại. Với việc phát triển và phổ cập nhanh chóng của vi điện tử, công nghệ sinh học, công nghệ vũ trụ, v.v… người ta ngày càng nói nhiều tới cái gọi là “chiến tranh công nghệ” và coi công nghệ là biến số có ý nghĩa chiến lược trong lựa chọn con đường phát triển quốc gia. Đối với các nước phát triển có trình độ công nghệ cao, họ đang thực hiện các đề án lớn về hiện đại hoá cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh những ngành sản xuất có hàm lượng công nghệ cao. Các nước chậm phát triển hơn đang nhanh chóng tìm cách đuổi kịp các nước đi trước bằng những chính sách công nghệ mềm dẻo – cơ sở cho việc thực hiện một chính sách đầu tư và chuyển nhượng công nghệ có hiệu quả, có sở định hướng cho hoạt động nghiên cứu và triển khai công nghệ của nước mình.
Tiến bộ KHCN vừa mở ra thời cơ lớn vừa đặt ra một thử thách cũng không nhỏ nếu chúng ta biết rằng chỉ cần từ 1 đến 3 năm để loại một mặt hàng nào đó ra khỏi thị trường thế giới, từ 3 đến 5 năm đủ để xoá bỏ một ngành công nghiệp và từ 5 đến 7 năm đủ để đánh bại một cường quốc công nghiệp. Chính vì sự nghiệt ngã đó mà ngày nay các nước kém phát triển buộc phải hành động theo một phương châm hoàn toàn mới là hoặc bắt đầu kịp thời “hoặc không bao giờ đuổi kịp” các nước phát triển. Giai đoạn phát triển mới của cách mạng KHCN đang thúc bách và cũng mở ra những khả năng mới cho các nước đi sau lựa chọn một hình mẫu về con đường công nghiệp hoá (CNH) đất nước. Đặc biệt nước ta đang trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước để tiến lên chủ nghĩa xã hội nên vấn đề ứng dụng KHCN vào sản xuất đóng vai trò quan trọng. Đó là bài toán khó đối với nước ta, vậy nên ta cần tìm hiểu kỹ mối quan hệ giữa KHCN với LLSX để giải quyết đúng vấn đề cấp thiết này. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã nêu rõ: "Khoa học và công nghệ hướng vào việc nâng cao năng suất lao động, đổi mới sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường, xây dựng năng lực công nghệ quốc gia, ứng dụng một cách sáng tạo những công nghệ nhập khẩu, từng bước tạo ra những công nghệ mới. Đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực sử dụng công nghệ hiện đại, công nghệ cao (tin học, sinh học, vật liệu mới, tự động hoá). Tạo thị trường cho khoa học và công nghệ, đổi mới cơ chế tài chính nhằm khuyến khích sáng tạo và gắn ứng dụng khoa học và công nghệ với sản xuất, kinh doanh, quản lý, dịch vụ. Có chính sách khuyến khích và buộc các doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu đổi mới công nghệ”.
Khoa học công nghệ, mà việc nghiên cứu, ứng dụng và trang bị những thành tựu của nó cho các ngành của nền kinh tế quốc dân là cốt lõi của nội dung CNH, HĐH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế hiện tại và lâu dài ở nước ta, một nước đang thiếu thốn nghiêm trọng. Chính vì lẽ đó cách mạng KHCN giữ vai trò then chốt và động lực quan trọng nhất ở nước ta.
Tiểu luận triết học gồm 3 phần chính sau:
1. Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
2. Vận dụng của khoa học đối với sản xuất.
3. Khoa học trong công cuộc đổi mới ở nước ta.
Những tài liệu gần giống với tài liệu bạn đang xem
📎 Số trang: 18
👁 Lượt xem: 2451
⬇ Lượt tải: 20
📎 Số trang: 27
👁 Lượt xem: 462
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 20
👁 Lượt xem: 881
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 18
👁 Lượt xem: 384
⬇ Lượt tải: 17
📎 Số trang: 73
👁 Lượt xem: 446
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 86
👁 Lượt xem: 386
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 86
👁 Lượt xem: 485
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 34
👁 Lượt xem: 537
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 32
👁 Lượt xem: 412
⬇ Lượt tải: 17
📎 Số trang: 103
👁 Lượt xem: 551
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 158
👁 Lượt xem: 348
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 158
👁 Lượt xem: 355
⬇ Lượt tải: 16
Những tài liệu bạn đã xem