Mã tài liệu: 238123
Số trang: 3
Định dạng: docx
Dung lượng file: 21 Kb
Chuyên mục: Triết học
[FONT="]
[FONT="]Việc nước ta gia nhập WTO đã và đang đặt ra những đòi hỏi mới trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Một yêu cầu không thể thiếu là phải chuẩn bị nguồn nhân lực đủ số lượng và chất lượng, phát huy nhân tố con người. Và, phát huy nhân tố con người đồng nghĩa với phát huy những điểm mạnh, khắc phục những hạn chế, nhất là những hạn chế đã ăn sâu vào nếp sống, lối sống. Trong đó, nếp sống tiểu nông đến nay vẫn hiện hữu trong cung cách làm việc, sinh hoạt ở nhiều nơi. [FONT="]
Nếu để nó kéo dài sẽ trở thành một lực cản không nhỏ cho quá trình hội nhập WTO. Lời cảnh báo của V.I.Lênin rằng những thói quen, nhất là thói quen lạc hậu có một sức ỳ ghê gớm cần phải được chúng ta ghi nhớ và giải quyết thoả đáng.
Thực tiễn cho thấy, nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội,thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước từ xuất phát điểm khá thấp. Với cơ sở kinh tế là nền nông nghiệp lúa nước, tự cấp tự túc và cơ sở xã hội trước đó là hệ tư tưởng Nho giáo phong kiến đã từng tồn tại ở nước ta hàng ngàn năm nay nên mặc dù trong điều kiện của khoa học công nghệ hiện đại thì những tàn dư lối sống tiểu nông vẫn rơi rớt lại trong mỗi người nông dân, công nhân, thậm chí trong các nhà trí thức, những người lãnh đạo – quản lý xã hội là một thực tế.
Là sản phẩm của điều kiện kinh tế xã hội, lịch sử nhất định, phản ánh điều kiện sống, hoạt động và quan hệ xã hội của người sản xuất nhỏ, lối sống tiểu nông biểu hiện thông qua nhận thức, [FONT="]cảm xúc[FONT="] tình cảm, thói quen, cách ứng xử, làm việc của người Việt Nam, tập trung ở những khía cạnh chính sau:
Về nhận thức và tư duy. Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan, kết quả của nó là sự hiểu biết của con người về tự nhiên, xã hội và tư duy. Nhận thức nói chung và tư duy nói riêng của người sản xuất nhỏ chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, rất đậm nét cảm tính, chủ quan. Đó là cách nhận thức và lối suy nghĩ thường giản đơn, đại khái, phiến diện, thiếu tính hệ thống, thiếu lôgic. Quá trình nhận thức hướng vào quá khứ là chính, do sự trải nghiệm trực tiếp, chủ quan nên thường lấy cái cổ xưa làm chỗ dựa, lấy ý thức của cha ông làm chân lý . Tư duy của họ thường dựa vào cái trực quan, cái trực tiếp là chủ yếu nên nhận thức của họ kém khái quát, không nhìn ra bản chất, qui luật, nguyên nhân, nguồn gốc bên trong của sự vật, hiện tượng. Đó là lối tư duy kinh nghiệm, chỉ thấy cái ngắn hạn trước mắt, không nhìn xa trông rộng, dễ bảo thủ, trì trệ, ngại đổi mới ít sáng tạo mà nặng về bắt chước, làm theo. Họ xem nhẹ sự học căn bản, coi “trăm hay không bằng tay quen”, điều này cần tránh trong thời đại kinh tế tri thức.
Về đời sống tinh thần, tình cảm và quan hệ xã hội. Biểu hiện của lối sống tiểu nông là sống nặng về tình mà nhẹ về lý, vì tình họ có thể “ chín bỏ làm mười”, “ dĩ hòa vi quý”, “trăm cái lý không bằng một tý cái tình”. Cũng do nặng vì tình mà trong quan hệ và thái độ ứng xử, họ có xu hướng muốn an toàn, trung dung, bình quân chủ nghĩa. Họ thích sự yên ổn, bình yên, ngại va chạm, không muốn đổ vỡ, ngại thay đổi, thường nhường nhịn nhau. Họ thường không dám mạo hiểm, nhưng do thiếu cơ sở khoa học, thiếu bản lĩnh, mù quáng mà đôi khi có hành vi ứng xử thái quá, cực đoan, độc đoán, gia trưởng. Nếu gia nhập WTO, trong bối cảnh chuyển dịch lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra với cường độ cao thì đây quả là một điểm yếu cốt tử.
Về nhu cầu và thói quen. Biểu hiện của lối sống tiểu nông là sự an phận thủ thường, sống theo kiểu tiết chế nhu cầu, thường bằng lòng với mình ít có nhu cầu khám phá, sáng tạo cái mới. Họ thường có tâm lý tự ti, mặc cảm là mình “ thấp cổ bé họng” không thể làm được việc lớn; trong làm ăn, tính toán thường theo tâm lý cò con, tư lợi, vun vén cá nhân. Ngoài ra, phải kể đến thói quen, tâm lý bản vị cục bộ, địa phương, kéo bè kéo cánh, ít giao lưu mở rộng quan hệ nên đã hạn chế rất nhiều đến tầm nhìn cũng như sự phong phú về nhân cách.
Lối sống tiểu nông trong tính cách người Việt là hiện tượng mang tính xã hội lịch sử, nó phản ánh điều kiện sản xuất nhỏ trong quá trình lao động, sản xuất, đấu tranh với tự nhiên và xã hội để tồn tại. Do đó, khắc phục, xóa bỏ nó có ý nghĩa to lớn trong phát huy nhân tố con người, tạo ra sức mạnh nội sinh trong
Những tài liệu gần giống với tài liệu bạn đang xem
📎 Số trang: 18
👁 Lượt xem: 2225
⬇ Lượt tải: 21
📎 Số trang: 11
👁 Lượt xem: 461
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 11
👁 Lượt xem: 480
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 11
👁 Lượt xem: 502
⬇ Lượt tải: 18
📎 Số trang: 23
👁 Lượt xem: 585
⬇ Lượt tải: 17
📎 Số trang: 25
👁 Lượt xem: 496
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 19
👁 Lượt xem: 467
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 19
👁 Lượt xem: 494
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 19
👁 Lượt xem: 541
⬇ Lượt tải: 18
📎 Số trang: 16
👁 Lượt xem: 402
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 15
👁 Lượt xem: 537
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 15
👁 Lượt xem: 654
⬇ Lượt tải: 19
Những tài liệu bạn đã xem
📎 Số trang: 3
👁 Lượt xem: 369
⬇ Lượt tải: 16