Mã tài liệu: 89412
Số trang: 241
Định dạng: docx
Dung lượng file: 1,509 Kb
Chuyên mục: Lịch sử
Cuốn sách này được ra mắt trong tập “Lịch sử Thế giới” xuất bản ở Pari tại nhà xuất bản E. đơ Bôca, dưới sự giám sát của Giáo sư E. Cavainhắc. Đó là tập bổ sung cho cuốn “Các triều đại và lịch sử Ấn Độ từ Canitxơkha đến thời kỳ xâm lược của người Hồi”(Tập VI) của L.đờ Lu Valê Putxanh xuất bản năm 1935. Trong cuốn đó vấn đề này đã được nêu lên trong một số bị chú chủ yếu và những thư mục (Phụ lục 2: Hàng hải và sự xâm chiếm thuộc điạ, trang 291-297). Đáng lẽ tôi cũng nên theo một phương pháp và một bút pháp như ông Putxanh, nghĩa là cung cấp cho bạn đọc một tấm phích kèm theo lời nhận xét và khi có thể được cho vài nhận định khái quát. Việc nghiên cứu lịch sử Đông Dương và vùng quần đảo còn rất mới so với việc nghiên cứu lịch sử Ấn Độ, cho nên việc viết thành một câu chuyện liên tục và chặt chẽ về những sự kiện chưa được biết thật đầy đủ thì có thể còn quá sớm. Tuy nhiên tôi cũng phải làm vì ý định của tôi nhằm trình bày một cách tổng hợp các yếu tố khác nhau tác động lẫn nhau như thế nào hơn là trình bày lịch sử với tất cả những chi tiết của nó.
Vùng địa lý ở đây được gọi là “ngoại Ấn” gồm vùng quần đảo (trừ Philippin), Đông Dương hay Ấn Độ bên ngoài Sông Hằng với bán đảo Mã Lai và Miến Điện (trừ xứ Átxam là mảnh đất kéo dài của Ấn Độ và Bănggalơ, trừ Bắc kỳ và Bắc trung kỳ Việt Nam là những vùng mà lịch sử đã phát triển ngoài ảnh hưởng của Ấn Độ).
Những tài nguyên thiên nhiên và vị trí địa lý của vùng trên tạo cho nó một địa vị có tầm quan trọng hàng đầu. Vào thời kỳ đầu công nguyên sau khi là “xứ vàng” của những nhà hàng hải Ấn Độ, Đông Dương và nhất là vùng quần đảo, vài thế kỉ sau, vùng này trở thành xứ hương liệu, long não và gỗ thơm (hương mộc) đối với người Ả Rập và người Âu châu trước khi trở thành một trong những nơi sản xuất cao su, thiếc và dầu hỏa quan trọng nhất. Mặt khác, do vị trí vùng quần đảo và các đảo Xông đơ là bến đỗ bắt buộc đối với các nhà hàng hải đi từ phương Tây và Ấn Độ sang Trung Quốc hay nguợc lại, nên nó có tầm quan trọng đối với việc buôn bán bằng đường biển.
Về mặt văn hóa, ngoại Ấn hiện nay có đặc điểm về những vết tích ít hay nhiều sâu sắc về sự Ấn Độ hóa trước kia: sự quan trọng của yếu tố chữ Phạn trong từ vựng các thứ ngôn ngữ ở vùng này, gốc Ấn Độ của những chữ cái trước đây hoặc hiện nay vẫn dùng, ảnh hưởng của luật pháp và tổ chức hành chính của Ấn Độ, sự lưu truyền một vài truyền thuyết Bàlamôn ngay trong những nước đã cải giáo theo đạo Hồi hay đạo Phật Xâylan, sự có mặt của một số công trình kiến trúc có liên quan về mặt kiến trúc và điêu khắc đối với nền mỹ thuật Ấn Độ và có mang các bút tích bằng chữ Phạn.
Sự bành trướng của nền văn minh Ấn Độ “về những miền và những đảo ở phía Đông mà nền văn minh Trung Quốc hình như đến trước đó do một sự tương ứng hiển nhiên”. Sự bành trướng đó là một giai đoạn nổi bật trong lịch sử thế giới, một trong những giai đoạn đã quyết định số phận một phần nhân loại đáng kể.
X. Lêvi viết “là xứ sở của trí khôn, Ấn Độ đã cung cấp cho các nước láng giềng những chuyện ngụ ngôn của mình, và các nước này lại đi truyền dạy cho cả thế giới. Là xứ sở của tín ngưỡng và triết học, Ấn Độ cho ba phần tư châu Á một vị thần, một tôn giáo, một chủ nghĩa, một nền nghệ thuật. Ấn Độ mang đến một ngôn ngữ thần thánh, một nền văn học và một nền giáo dục của nó vào vùng quần đảo cho tới giới hạn của thế giới đã được biết, và từ đó nhảy về Mađagatxca, và có thể vào cả miền ven biển châu Phi, ở đó hiện nay làn sóng di thực của những người Ấn Độ hình như đi theo vết tích đã mờ của quá khứ”.
Người ta có thể đo được tầm quan trọng của sự tác động của nền văn minh Ấn Độ trong một nhận xét đơn giản sau: chỉ xét về những đặc điểm về cơ thể một người nông dân Campuchia không khác một người Ponông hay một người Xamre. Nhưng những người Ponông hay những người Thượng ở Việt Nam vẫn ở trong giai đoạn tổ chức bộ lạc: họ giải quyết những sự xung đột theo tục lệ khẩu truyền, về tôn giáo họ chỉ có thuyết linh hồn thô sơ, trong đó các yếu tố có thay đổi từ bộ lạc này sang bộ lạc khác; vũ trị luận của họ còn rất ấu trĩ, họ chưa có chữ viết. Trong khi đó người Campuchia chậm phát triển nhất cũng nằm trong guồng máy của một quốc gia đã phân chia đẳng cấp mạnh mẽ; họ chịu quyền quản hạt của những tòa án và những tòa án này xét xử theo luật viết. Họ nhiệt tâm theo một tôn giáo đã có giáo lý, thánh kinh và tăng lữ, đồng thời tôn giáo đó đã cho họ những quan niệm chặt chẽ về tổ chức thế giới loài người và thế giới bên kia, là những quan niệm của phần rất lớn những người châu Á; cuối cùng họ đã đặt ra một hệ thống chữ viết, nó giúp cho họ đi tới một nền văn học rộng rãi và cho phép họ có thể truyền đi xa trong những người đồng chủng. Tất cả điều đó họ phải nhờ ở Ấn Độ, và để tóm tắt nhận thức đó trong một nhận thức hơi thô thiển, người ta có thể nói người Campuchia là một người Pônông đã được Ấn Độ hóa. Nếu thay đổi một số từ trong công thức đó, người ta có thể áp dụng cho người Miến Điện, người Thái phương Nam, người Chàm xưa, người Malai và người Giava trước khi có Hồi giáo. Từ sự Ấn Độ hóa đó nảy sinh ra một loạt những vương quốc, những nước này mới đầu là những quốc gia Ấn Độ thực sự, sau đó, dưới sự phản ứng của thổ dân địa phương, nó đã phát triển tùy theo sáng kiến riêng từng nơi, nhưng vẫn giữ được trong các biểu hiện về văn hóa cái phong thái gần gũi mà họ đã tiếp nhận từ cùng một nguồn gốc: Campuchia, Chàm, các nước nhỏ ở bán đảo Malai, các vương quốc ở Xumatơra, Giava, Bali, các vương quốc Miến Điện và Thái và cuối cùng các nước đó đã tiếp nhận nền văn hóa Ấn Độ qua sự trung gian của người Mông và người Khơme.
Điều kỳ lạ là chính nước Ấn Độ đã mau chóng quên rằng nền văn hóa của họ đã lan truyền về phía Đông và Đông Nam trên những miền rộng lớn như vậy. Những nhà bác học Ấn Độ đã từng biết đến điều đó cho tới thời gian gần đây và phải đến khi có một số nhóm nhỏ học tiếng Pháp và tiếng Hà Lan ở các trường Đại học Pari và Lâyđơ mới khám phá ra, trong các công trình nghiên cứu của chúng ta và của các đồng nghiệp Hà Lan và Giava, lịch sử cái mà hiện nay họ đã tự hào một cách chính đáng gọi bằng danh từ “Đại Ấn Độ”.
Chương đầu tiên tên là “Xứ sở và dân cư” trình bày một sơ đồ địa lý cực kỳ vắn tắt, và một bản tóm tắt những hiểu biết hiện nay về tiền sử và nhân chủng về Đông Dương và vùng quần đảo. Thực ra cũng cần có một số quan niệm về cơ sở trên đó nền văn minh Ấn Độ đã lan tràn.
Chương hai nghiên cứu các nguyên nhân, thời kỳ, các hình thái, các kết quả đầu tiên của sự Ấn Độ hoá một cách tích cực trên phạm vi các miền đã quy định trong chương trên.
12 chương sau kể lại những sự kiện nổi bật đã tạo nên đường nét của lịch sử cổ miền ngoại Ấn cho tới khi người Âu châu tới.
Kết cấu đề tài:
1. Nước Cămpuchia: Giayavácman VII (Yayavarman VII) (1181 - sau 1200) và sự thôn tính nước Chàm
2. Nước Miến Điện: Narapatixituy (Narapatisithu) (1173 - 1210) và sự thâm nhập của đạo Phật Xanhgale.
3. Quần đảo Nam Dương cuối thế kỷ XII: Sự suy yếu của nước Xơrivigiaya (Srivigaya) (Palembang) có lợi cho Malayu (Giămbi).
4. Nước Cămpuchia nửa đầu thế kỷ XIII.
5. Nước Chàm sau khi chấm dứt sự chiếm đóng của Khơme (1220 - 1257)
6. Nước Miến Điện: Những ông vua cuối cùng của Pagăng (1210 - 1274).
7. Xơrivigiaya trước lúc bị chia cắt (1225 - 1270).
8. Giava: Thời kỳ cuối của vương quốc Cađiri (Kadiri) (1222) và thời kỳ đầu của vương quốc Xanhgaseari cho đến 1268.
Những tài liệu gần giống với tài liệu bạn đang xem
📎 Số trang: 133
👁 Lượt xem: 926
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 133
👁 Lượt xem: 2185
⬇ Lượt tải: 25
📎 Số trang: 47
👁 Lượt xem: 543
⬇ Lượt tải: 17
📎 Số trang: 17
👁 Lượt xem: 2053
⬇ Lượt tải: 20
📎 Số trang: 17
👁 Lượt xem: 622
⬇ Lượt tải: 22
📎 Số trang: 35
👁 Lượt xem: 636
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 9
👁 Lượt xem: 573
⬇ Lượt tải: 17
📎 Số trang: 20
👁 Lượt xem: 495
⬇ Lượt tải: 18
📎 Số trang: 63
👁 Lượt xem: 609
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 32
👁 Lượt xem: 668
⬇ Lượt tải: 17
📎 Số trang: 10
👁 Lượt xem: 461
⬇ Lượt tải: 16
Những tài liệu bạn đã xem
📎 Số trang: 241
👁 Lượt xem: 731
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 15
👁 Lượt xem: 433
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 76
👁 Lượt xem: 719
⬇ Lượt tải: 18
📎 Số trang: 71
👁 Lượt xem: 615
⬇ Lượt tải: 16