Mã tài liệu: 298263
Số trang: 10
Định dạng: zip
Dung lượng file: 46 Kb
Chuyên mục: Tổng hợp
I. TÌNHHÌNHXUẤTKHẨUCÀPHÊHIỆNNAY
1. Khái quát chung về ngành cà phê Việt Nam
1.1 Về sản lượng
Đầu những năm 1970, vấn đề phát triển cây cà phêđược đặt ra với những bước khởi đầu rầm rộ, chủ yếu là tại địa bàn hai tỉnh Đăklăc và Gialai Kontum ở Tây Nguyên. Vào thời gian này cả nước mới chỉ có không đầy 20.000 ha cà phê phát triển kém và năng suất thấp, với sản lượng chỉ khoảng 4000 - 5000 tấn. Đến nay, cả nước đã có 500.000 ha cà phê hầu hết sinh trưởng khỏe, năng suất cao, tổng sản lượng đạt tới 80 vạn tấn, đưa Việt Nam trở thành nước sản xuất cà phê lớn thứ hai trên thế giới. Những con sốđó vượt xa tất cả mọi suy nghĩ, mọi mục tiêu và chiến lược của ngành.
Diện tích và sản lượng cà phê Việt Nam từ 1992 - 2001:
Niên vụ Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)
1992-1993 140.000 140.400
1993-1994 150.000 181.200
1994-1995 215.000 211.920
1995-1996 295.000 236.280
1996-1997 350.000 342.300
1997-1998 410.000 413.580
1998-1999 460.000 404.206
1999-2000 520.000 700.000
2000-2001 500.000 900.000
(Hiệp hội cà phê - ca cao Việt nam: www.vicofa.org.vn)
1.2. Về công nghệ chế biến
Sau năm 1975, khi đi vào phát triển sản xuất cà phê, nước ta mới chỉ có một ít xưởng chế biến cũ và chắp vá: ở phía bắc có một số xưởng chế biến ởĐồng Giao, Phủ Quỳ với thiết bị lắp đặt từ năm 1960-1962 do Cộng hoà dân chủĐức chế tạo, ở phía nam có một số xưởng của các doanh điền cũ như Rossi, Delphante để lại công suất không lớn. Cùng với việc mở rộng diện tích trồng cà phê, chúng ta cũng bắt đầu xây dựng các xưởng chế biến mới, từ những thiết bị riêng lẻ cho đến các dây chuyền sản xuất sao chép theo mẫu của Hang-xa như của nhà máy cơ khí 1/5 Hải Phòng nhà máy A74 Bộ Công nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh. Những năm gần đây, nhiều công ty, nông trường đã xây dựng các xưởng chế biến mới khá hoàn chỉnh với thiết bị nhập từĐức, Braxin.
Các cơ sở chế biến với thiết bị mới, chất lượng sản phẩm kháđược xây dựng trong vòng 5,7 năm trở lại đây đảm bảo chế biến được khoảng 150.000- 200.000 tấn cà phê nhân xuất khẩu. Ngoài ra còn nhiều cơ sở tái chế trang bị không hoàn chỉnh với nhiều máy lẻ, chế biến cà phê thu mua của dân đã qua sơ chế nhằm đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu. Cà phê của dân thu hái về chủ yếu được xử lý phân tán ở từng hộ nông dân qua con đường phơi khô trên sân, cả sân xi măng lẫn sân đất. Nhiều nơi chúng ta dùng các máy xay xát nhỏđể xay cà phê quả khô ra cà phê nhân bán cho những người thu gom cà phê. Tình hình chế biến như vậy dẫn đến kết quả là sản phẩm chất lượng không đồng đều. Cà phê của các công ty, nông trường sản xuất ra thường có chất lượng tốt, mặt hàng đẹp được khách hàng đánh giácao. Nhìn chung, lâu nay việc mua bán cà phê không theo tiêu chuẩn nhà nước, việc quy định chất lượng trong các hợp đồng mua bán còn đơn giản và mang tính chất thoả thuận giữa người mua và người bán nên chưa tạo thành sức ép thúc đẩy việc cải tiến công nghệ chế biến, nâng cao chất lượng cà phê.
Trong những năm gần đây, do cung cà phê vượt quá cầu dẫn đến giá cà phê xuống thấp liên tục, người mua đòi hỏi chất lượng cao hơn vàáp đặt yêu cầu cho người bán. Ngành cà phê Việt Nam phải đương đầu với những thách thức mới về mặt công nghệ chế biến.
2. Hoạt động xuất khẩu cà phê hiện nay
Hiện nay ở Việt Nam, cà phê là mặt hàng nông sản xuất khẩu có giá trị lớn đứng thứ hai sau gạo. Giá trị cà phê xuất khẩu thường chiếm gần 10% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm. Năm 2000, Việt Nam xuất khẩu 680.000 tấn cà phê, đạt kim ngạch xuất khẩu trên 500 triệu USD, đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu cà phê, sau Brazil. Hiện nay, cà phê Việt Nam đã xuất khẩu sang 54 nước, trong đó các nước nhập khẩu trên 10.000 tấn cà phê là Mỹ, Đức, Italia, Tây Ban Nha, Bỉ, Pháp, Anh, Ba Lan, Nhật Bản, Áo, Hàn Quốc, Canada và Hà Lan.
Những tài liệu bạn đã xem