Mã tài liệu: 46260
Số trang: 57
Định dạng: docx
Dung lượng file: 371 Kb
Chuyên mục: Kế toán - Kiểm toán
Lời nói đầu
Trên thế giới, nghề thẩm định giá đã được hình thành và phát triển từ lâu, nhưng ở Việt Nam đây là một nghề còn rất non trẻ. Với pháp lệnh giá vừa được ban hành và thực tiễn hoạt động thẩm định giá trong nước thời gian qua đã khẳng định: Thẩm định giá là một nghề cần thiết tồn tại khách quan, phù hợp với xu thế phát triển chung của mọi nền kinh tế, nhất là những nước có nền kinh tế đang phát triển như nước ta.
Một trong những nội dung quan trọng của Thẩm định giá là thẩm định giá trị máy móc thiết bị. Như chúng ta đều biết, máy móc thiết bị là một trong những tài sản không thể thiếu được đối với bất kỳ một hoạt động sản xuất và kinh doanh nào. Vì vậy, để các doanh nghiệp có thể quản lý được máy móc thiết bị của mình một cách hợp lý và hiệu quả nhất, đòi hỏi doanh nghiệp phải đánh giá đúng được giá trị của máy móc thiết bị đó. Cho nên, thẩm định giá trị máy móc thiết bị có vai trò hết sức cần thiết và quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh nào.
Với sự hiểu biết của bản thân, cùng với những kiến thức được trang bị trong nhà trường. Trong thời gian thực tập tại Công ty quản lý và xây dựng đường bộ I – Yên Bái, em lựa chọn đề tài: “ Thẩm định lại giá trị máy móc thiết bị phục vụ cho việc mua, bán, chuyển nhượng và thanh lý tại Công ty quản lý và xây dựng đường bộ I – Yên Bái” làm chuyên đề tốt nghiệp cho bản thân.
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài này được chia làm 3 chương. Cụ thể:
Chương I: Tổng quan về Thẩm định giá và cơ sở lý luận về Thẩm định giá trị máy móc thiết bị.
Chương II: Quá trình hình thành và phát triển của cơ quan thực tập, tổng quan về thẩm định giá trị máy móc thiết bị.
Chương III: Xác định lại giá trị MMTB phục vụ cho việc mua, bán, chuyển nhượng và thanh lý của doanh nghiệp.
Chương I
Tổng quan về Thẩm định giá và cơ sở lý luận về thẩm định giá trị máy móc thiết bị
Phần 1: Tổng quan về Thẩm định giá
Nền kinh tế Việt Nam chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự chuyển đổi cơ chế kinh tế đã kéo theo sự thay đổi cơ chế quản lý Nhà nước về giá cả. Trong cơ chế cũ, Nhà nước định giá tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ thì nay những chỉ định giá một số sản phẩm có tính chất độc quyền ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu dùng. Song một điều vẫn được khẳng định là trong cơ chế thị trường, Nhà nước vẫn có vai trò quan trọng trong quản lý giá cả. Thẩm định giá là một trong những nội dung quản lý của Nhà nước về giá cả nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, đây là một vấn đề quan trọng và cấp bách khi nền kinh tế Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Từ đó ta có thể khẳng định thẩm định giá là một nghề, một hoạt động không thể thiếu được trong nền kinh tế ở nước ta hiện nay. Thẩm định giá ngày càng cần thiết cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt là chuyên môn của các chuyên gia thẩm định giá và với tầm quan trọng của nó thì ngày 23/4/2002 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thông qua pháp lệnh giá và đã chính thức thực hiện từ ngày 01/07/2002 …
Tuy nhiên, Thẩm định giá có lẽ còn rất mới mẻ và mơ hồ đối với người dân Việt Nam . Cũng bởi một lẽ rất dễ hiểu là đối với các nước có nền kinh tế phát triển như Anh, Pháp, Mỹ … thì thẩm định giá đã trở thành một nghề chuyên nghiệp và rất được ưa thích, còn đối với đất nước ta - một đất nước có nền kinh tế đang phát triển thì nó cũng là một ngành còn rất mới và còn rất trẻ so với ngành thẩm định giá thế giới . Tuy vậy, như chúng ta đã biết và có thể nói thẩm định giá là trái tim của tất cả các hoạt động kinh tế, vì mọi việc có liên quan đến hoạt động kinh tế đều chịu sự tác động bởi khái niệm giá trị và thẩm định giá có thể cho chúng ta hiểu đơn giản là xác định giá trị của các tài sản trên thị trường. Thẩm định giá giúp cho chúng ta đưa ra các quyết định mua, bán, sở hữu, cho thuê, thanh lý… mà cuối cùng nó đem lại tính kinh tế và hiệu quả kinh tế cao.
ở nước ta các doanh nghiệp với rất nhiều hình thức, cơ cấu rất phức tạp cho nên việc đánh giá lại tài sản của người thẩm định giá là không đơn giản. Nó đòi hỏi người thẩm định viên phải có năng lực, nhiều kinh nghiệm, chuyên môn cao thực tế cập nhật thông tin nhạy bén với thị trường và có đạo đức với nghề nghiệp, luôn học hỏi và nâng cao kiến thức.
Phần 2: Cơ sở lý luận về Thẩm định giá trị máy móc thiết bị ( MMTB)
I- Khái niệm cơ bản về Thẩm định giá trị máy móc thiết bị và phân loại
1/ Khái niệm về máy móc thiết bị và Thẩm định giá trị MMTB
ở Việt Nam tiêu chuẩn thẩm định giá trị MMTB nói riêng và tiêu chuẩn thẩm định giá trị tài sản nói chung chưa được hình thành. Do vậy trước khi đi vào những nội dung thẩm định giá trị MMTB cần thiết phải hiểu thẩm định giá trị những loại tài sản nào. Theo tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế ( IVSC) và tiêu chuẩn thẩm định giá khu vực ( Hiệp hội thẩm định giá ASEAN - AVA) máy móc thiết bị được định nghĩa như sau :
* Theo tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế : MMTB bao gồm các loại tài sản hữu hình, trừ bất động sản sinh ra thu nhập cho người chủ sở hữu, cụ thể có thể định nghĩa như sau:
Máy móc bao gồm các thiết bị, phụ tùng của tài sản có thể bao gồm những toà nhà, máy móc, thiết bị không cố định .
Máy móc bao gồm những máy nhỏ hoặc tập hợp những máy riêng lẻ. Một máy cụ thể là máy sử dụng hoặc áp dụng năng lực máy móc, có vài phụ tùng với chức năng cụ thể và thực hiện một loại công việc nhất định .
Thiết bị bao gồm những tài sản lệ thuộc được sử dụng giúp chức năng của nhà máy.
* Theo tiêu chuẩn thẩm định giá khu vực: MMTB là một loại tài sản khác với bất động sản ( hay còn gọi là động sản) bao gồm cả nhà xưởng, dây chuyền sản xuất, máy móc và thiết bị. Theo tiêu chuẩn kế toán nó đươc phân loại như là tài sản hữu hình.
Cụ thể có thể định nghĩa nhà xưởng và dây chuyền thiết bị sản xuất bao gồm một dây chuyền các tài sản mà trong đó có thể bao gồm các nhà xưởng không vĩnh cửu, có thể di dời máy móc và thiết bị.
Máy móc bao gồm những máy riêng biệt hoặc cả một cụm máy móc. Một cái máy là một chủng loại thiết bị sử dụng năng lực máy móc, nó có một số chi tiết hay phụ tùng tạo thành để thực hiện một công việc nhất định.
Thiết bị phụ trợ: là những tài sản phụ được sử dụng trợ giúp thực hiện các chức năng của doanh nghiệp .
Như vậy, máy móc được hiểu bao gồm nhà xưởng, dây chuyền sản xuất, máy móc ( và cả nhóm máy móc) thiết bị phụ giúp sản xuất.
Từ những khái niệm trên, ta có thể nói Thẩm định giá trị MMTB là một tập hợp các bước thẩm định giá có tổ chức và lôgic, được sắp xếp phù hợp với các quy tắc cơ bản đã được xác định rõ, nó giúp cho các nhà thẩm định giá đưa ra được kết quả thẩm định giá MMTB đúng đắn và có cơ sở. Như vậy, thẩm định giá trị MMTB là ước tính giá trị thị trường của MMTB đó dựa vào những cơ sở đã có sẵn.
2/ Phân loại máy móc thiết bị Máy móc thiết bị có thể được phân loại theo các cách sau:
* MMTB không chuyên dụng: có thể dễ dàng được nhận diện ở thị trường đã có sẵn và có chỉ dẫn về giá trị .
* MMTB chuyên dụng: việc áp dụng hoặc sử dụng không được trao đổi như thông lệ ở các thị trường có sẵn do dạng riêng biệt của chúng.
MMTB được coi như là dư so với yêu cầu, và do vậy không đóng góp một chút gì thêm ngoài giá trị doanh thu của chúng đối với doanh nghiệp.
* Máy móc thiết bị và công tác thẩm định giá máy móc thiết bị:
Máy móc thiết bị có rất nhiều trong các lĩnh vực, từ ngành sản xuất, công nghiệp mỏ, công nghiệp khai khoáng, đóng tàu đến tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng như mọi mặt của đời sống xã hội.
Các thẩm định viên máy móc thiết bị thấy rằng, máy móc thiết bị có thể thay đổi theo tuổi đời và theo quan điểm thực tế thì rất cần áp dụng các nguyên tắc để thẩm định giá thiết bị theo cách thức chuẩn mực nhất.
Thẩm định giá máy móc thiết bị là một lĩnh vực chuyên ngành, đòi hỏi người thẩm định viên phải am hiểu chuyên sâu về giá trị tài sản và đặc biệt là về MMTB.
Ngày nay, một điều dễ nhận thấy là MMTB được sử dụng để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ cũng trở nên quan trọng như đất đai và nhà xưởng lắp đặt chúng. Người ta đã tổng kết rằng, hiện nay các công ty, tập đoàn sản xuất hiện đại đầu tư vào máy móc thiết bị cũng tương đương bằng các khoản đầu tư vào bất động sản.
thức chuyển đổi khác.
II- Sự cần thiết khách quan của việc thẩm định giá trị MMTB
1/ Mục đích thẩm định giá trị máy móc thiết bị
a. Khách hàng thẩm định giá trị máy móc thiết bị vì các mục đích
+ Khi máy móc thiết bị cần mua bán.
+ Giúp người bán quyết định mức giá bán chấp nhận được .
+ Giúp cho người mua quyết định giá mua hợp lý .
+ Giúp cho việc trao đổi tài sản, thiết bị mà các bên cần biết giá trị của tài sản, thiết bị có liên quan.
+ Mục đích cho vay và đi vay.
+ Để biết trị giá an toàn của tài sản khi thế chấp vay tiền.
+ Để đảm bảo tài sản của khách hàng.
b. Những mục đích thẩm định giá trị chủ yếu của Việt Nam hiện nay
Tại Việt Nam thẩm định giá trị được thực hiện theo yêu cầu của các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế ( trong và ngoài nước ), tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang và cá nhân nhằm các mục đích :
+ Cổ phần hoá .
+ Liên doanh thành lập hoặc giải thể các doanh nghiệp.
+ Mua bán chuyển nhượng, thế chấp, vay vốn ngân hàng.
+ Hạch toán, kế toán, tính thuế .
+ Bảo hiểm.
+ Xử lý tài sản trong các vụ án và rất nhiều mục đích khác …
Và tại điều 13, mục III pháp lệnh giá đã quy định rõ: Tài sản của nhà nước cho thuê, chuyển nhượng, bán, góp vốn và các hình thức chuyển quyền khác. Tài sản của doanh nghiệp Nhà nước cho thuê, chuyển nhượng, bán, góp vốn, cổ phần hoá, giải thể và các hình thức khác.
2/ Yêu cầu của quản lý Nhà nước
Thẩm định giá trị là một nội dung quản lý Nhà nước về giá đã được ghi trong pháp lệnh giá.
Nước ta trong điều kiện tài sản thuộc sở hữu của toàn dân, đặc biệt là tài sản của doanh nghiệp Nhà nước còn rất lớn và đang trong quá trình thực hiện cổ phần hoá, liên doanh với nước ngoài. Hàng năm ngân sách Nhà nước cấp vốn đầu tư xây dựng cơ bản và mua sắm mới trang thiết bị hàng nghìn tỷ đồng.
Do vậy nhu cầu về thẩm định giá trị hiện nay là rất lớn .
Tại kỳ họp thứ 2 quốc hội khoá X, Thủ tướng chính phủ đã nêu rõ: Một trong những biện pháp tiết kiệm chi ngân sách là thực hiện quy chế thẩm định giá trị và đấu thầu trong việc mua sắm các trang thiết bị vật tư có giá trị cao hoặc khối lượng lớn.
Điều 40 nghị định 12/CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng khẳng định : “ Thiết bị máy móc nhập khẩu để thực hiện dự án đầu tư phải được giám định giá trị chất lượng trước khi nhập khẩu hoặc trước khi lắp đặt ”.
Và tại điều 13, mục III pháp lệnh giá đã quy định rõ:
Tài sản Nhà nước phải thẩm định bao gồm: Tài sản được mua bằng toàn bộ hoặc một phần từ nguồn ngân sách Nhà nước. Tài sản của nhà nước cho thuê, chuyển nhượng, bán, góp vốn và các hình thức chuyển nhượng khác.
Tài sản của doanh nghiệp Nhà nước cho thuê, chuyển nhượng, bán, góp vốn cổ phần hoá, giải thể và các hình thức chuyển đổi khác .
Tài sản của Nhà nước theo quy định của pháp luật phải thẩm định giá trị.
Tuy ở nước ta nghề thẩm định giá mới ra đời, nhưng có thể coi thẩm định giá như một công cụ góp phần vào việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và nền kinh tế quốc dân, hạn chế thất thoát và tiêu cực .
3/ Yêu cầu của nền kinh tế thị trường
Khi thị trường càng phát triển thì nhu cầu giao dịch về tài sản nói chung và về máy móc thiết bị nói riêng càng cần thiết được thực hiện theo yêu cầu của thị trường:
+ Khi máy móc thiết bị cần mua bán
+ Giúp người bán quyết định mức giá bán chấp nhận được .
+ Giúp người mua quyết định giá mua hợp lý .
+ Giúp cho việc trao đổi tài sản, thiết bị mà các bên cần biết giá trị của tài sản, thiết bị có liên quan .
+ Mục đích cho vay và đi vay
+ Để biết giá trị an toàn của tài sản khi thế chấp vay tiền.
+ Để đảm bảo tài sản của khách hàng .
III- Yêu cầu của việc thẩm định giá trị MMTB
1/ Xác định giá trị thay thế phục hồi
Khái niệm: Giá trị thay thế phục hồi bằng giá trị mới được định nghĩa là chi phí tái xây dựng hoặc thay thế cái cũ bằng cái mới và do vậy chi phí mà thẩm định viên xác định được sẽ dùng cho các tài sản thay thế hiện thời với những thiết bị giống hoặc gần giống như vậy theo giá mới của nhà sản xuất, trong đó có tính đến các yếu tố như :
+ Chi phí vận chuyển
+ Tỷ giá hối đoái .
+ Chi phí lắp đặt .
+ Tiền thiết kế và hoa hồng.
+ Chi phí trả trực tiếp như phí tư vấn cho kĩ sư.
Thẩm định giá cho mục đích bảo hiểm có hai nguyên tắc cơ bản sau:
+ Cái mới thay thế cái cũ.
+ Bồi thường.
Thẩm định để bồi thường phải trình bày số tiền lương ứng với chi phí thay thế máy móc thiết bị trong điều kiện có thể so sánh được với tài sản hiện có.
Có hai phương pháp đã được chấp thuận để xác định giá trị bồi thường:
+ Bằng cách thiết lập mức giá bán trung gian hiện thời và cộng thêm chi phí lắp đặt mới và tiền hoa hồng .
+ Khấu hao giá trị phục hồi bằng giá trị mới.
Khi có tài sản tương tự trên thị trường thì thông qua những người bán trung gian, phương pháp thẩm định giá được sử dụng nhiều nhất là thường cộng thêm chi phí vận chuyển, lắp đặt và tiền hoa hồng vào giá mua và chi phí hành chính hợp lý để xác định mức giá trung gian danh nghĩa.
Khi tài sản không có trên thị trường thì phương pháp thực tiễn duy nhất là khấu hao giá trị thay thế ( phục hồi nếu có ), hình thành giá trị mới nhằm phản ánh tuổi đời, điều kiện và sự lạc hậu, lỗi thời của sản phẩm .
2/ Giá trị thị trường với mục đích sử dụng hiện thời
Khái niệm : Là giá mà một người mua sẽ trả để có được tài sản đó bởi đó là một phần của hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp hiện có.
Giá trị thị trường cho mục đích sử dụng hiện thời của bất kì loại máy móc nào cũng phản ánh giá trị của nó đối với người sở hữu hiện thời, coi như là một phần nội tại của một phần kinh doanh của họ, do vậy giá trị thị trường cho mục đích sử dụng hiện thời của bất kì máy móc thiết bị nào cũng không thể thấp hơn mức giá mà người chủ có thể nhận được khi phải bán máy móc thiết bị đó.
3/ Giá thị trường
Về quy trình thẩm định cũng tương tự như thẩm định để bảo hiểm và thẩm định giá trị thị trường nhưng phải lưu ý đến bản chất của thị trường .
Chương II
Quá trình hình thành và phát triển của cơ quan thực tập,
tổng quan về thẩm định giá trị máy móc thiết bị
I- Qúa trình hình thành và phát triển của Công ty Xây dựng và Quản lý đường bộ I – Yên Bái
1/ Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của công ty quản lý và xây dựng đường bộ I – Yên Bái
Ra đời trong những năm tháng chiến tranh và được chính thức thành lập từ ngày 26/7/1962 theo quyết định số 684/QĐ của uỷ ban hành chính khu tự trị tây bắc về việc thành lạp công ty quản lý xây dựng đuờng bộ I - thị xã Nghã Lộ - tỉnh Yên Bái. Công ty có nhiệm vụ đảm bảo an toàn giao thông vận tải các con đường phía Tây của tỉnh.
Trong chặng đường xây dựng và phát triển của mình Công ty xây dựng và quản lý đường bộ I trong bất cứ hoàn cảnh nào luôn hoàn thành sất xắc nhiệm vụ được giao như đảm bảo giao thông thông suốt, giữ chọn niềm tin của Đảng và Nhà nước giao cho.
Ngay từ những ngày đầu mới thành lập với 310 cán bộ công nhân viên quản lý 310 Km đường quốc lộ trên các tuyến quốc lộ như 13A, quốc lộ 136, quốc lộ 32, thuộc 3 huyện là huyện Văn Chấn, huyện Bắc Yên và huyện Phù Yên. đường của công ty kéo dài từ Đát Quang đến phà Tạ Khoa ( Sơn La), từ Gia Phù đến Vạn Yên, từ Ba Khe vào Nghĩa Lộ. Đây là những con đường xung yếu, trong chiến tranh nhiều con đường do đơn vị quản lý là mục tiêu đánh phá của giặc Mĩ như Cầu Thia, Ba Khe, Đèo Khế. Chỉ tính từ năm 1962 đến năm 1972 có tới 99 lần cung đường do đơn vị quản lý bị đánh phá ác liệt. Trong thời gian này mặc dù sản xuất chiến đấu dưới mưa bom bão đạn của kẻ thù nhưng những người thợ vẫn không lùi bước, bằng ý chí kiên cường chỉ hoàn toàn với những công cụ thô sơ như cuốc , xẻng, xe cút kít…vẫn luôn hoàn thanh nhiệm vụ. Các phong trào “ tay cuốc tay súng” quyết tâm đánh giặc Mĩ. Trên trận tuyến giao thông vận tải nhiều tấm gương hi sinh anh dũng bảo vệ con đường, như gương hi sinh của đồng chí bí thư chi đoàn hạt 1 Vũ Hồng Xuân tại cung Cầu Thia, liệt sĩ Phạm Văn Tước hạt 3 Phù Yên. Máu của họ đã đổ xuống nhuộm thắm những con đường để ngày ngày những mạch lúa giao thông luôn được thông xuốt.
Từ những thành tích đạt được trong sản xuất và chiến đấu đơn vị đã vinh dự được chủ tịch Hô Chí Minh tặng huân chương năm 1968, chủ tịch hội đồng nhà nước trao tặng huân chương lao động hạng 3 năm 1983, huân chương lao động hạng 2 năm 1992 cùng hàng trăm giải thưởng cao quý khác cho tập thể và cá nhân, những thành tích đó là hành trang quý giá để lớp cán bộ công nhân viên công ty quản lý và xây dựng đường bộ I hôm nay vững vàng bước vào công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng với khí thế lao động mới .
Công ty quản lý và xây dựng đường bộ I – Yên Bái với nhiệm vụ quản lý sửa chữa 5 tuyến đường phía tây của tỉnh qua các huyện Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải và thị xã Nghĩa Lộ. Mặc dù đảm bảo giao thông trên các tuyến đường thuộc địa bàn miền núi khó khăn phức tạp, nhưng được sự quan tâm của Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và sự chỉ đạo sát sao của Công ty xây dựng và quản lý đường bộ I, Sở giao thông vận tải Yên Bái cùng sự nỗ lực phấn đấu của toàn bộ công nhân viên chức trong đơn vị luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ .
Từ những năm 1992 đến nay với khả năng trình độ nghiệp vụ và quản lý, trong những năm gần đây đơn vị đã được giao thi công và xây dựng một số công trình vừa và lớn. Bằng khả năng và lòng nhiệt tình với sự trang bị đảm bảo chỉ tiêu kĩ thuật và mĩ thuật được hội đồng nghiệm thu và đánh giá cao
về chất lượng, đồng thời đảm bảo có lãi thu nhập các công trình xây dựng, đảm bảo hoàn vốn và tăng tính tích luỹ tài chính cho đơn vị.
Từ đó đến nay đơn vị luôn hoàn thành kế hoạch giao và các chỉ tiêu chế độ nộp ngân sách nhà nước.
Là một đơn vị lâu năm trải qua nhiều thời kỳ, xong Công ty xây dựng và quản lý đường bộ I luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ kế hoạch Nhà nước giao, đảm bảo đời sống cán bộ công nhân viên ngày càng được nâng cao, quy mô của đơn vị ngày càng được mở rộng và phát triển. Nhất là trong cơ chế thị trường hiện nay đòi hỏi chất lượng cao và giá thành hạ của các công trình và phải qua công tác đấu thầu công trình cơ bản.
Chức năng nhiệm vụ chính của đơn vị là bảo dưỡng và quản lý đường bộ, mọi biện pháp quản lý của đơn vị nhằm mục tiêu cơ bản là bảo vệ, giữ gìn đường xá không bị xuống cấp, tu bổ vững chắc an toàn hệ thống công trình giao thông, kè, cầu, cống… đảm bảo có hiệu quả sự giao lưu, đi lại, phát triển kinh tế, văn hoá xã hội của đồng bào, cán bộ và nhân dân các dân tộc miền núi phía Tây của tỉnh Yên Bái.
Quá trình tổ chức và sản xuất của đơn vị cũng nhằm mục tiêu sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư của Nhà nước, thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ và trách nhiệm của đơn vị đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc của Đảng và nhân dân ta.
* Trong công tác sửa chữa thường xuyên
Hàng tháng đơn vị giao nhiệm vụ cho các đội trên cơ sở kiểm tra hồ sơ bình đồ duỗi thẳng, xác định từng hạng mục, vị trí cần sửa chữa, bảo dưỡng. Các hạt giao khối lượng công việc cụ thể cho các tổ, nhóm sản xuất quản lý từng Km đường và hệ thống công trình kèm theo.
Quá trình tổ chức sản xuất có sự phối hợp của cán bộ kỹ thuật của Công ty và Hạt, Đội. Đảm bảo cho công nhân thực hiện thao tác các hạng mục khối lượng công việc đúng theo tiêu chuẩn chất lượng của công tác bảo dưỡng đường. Kết hợp chặt chẽ với việc quản lý lao động bằng việc giao khoán khối lượng công việc, mục tiêu đặt ra cho công tác bảo dưỡng đó là “ Đường luôn luôn quang sạch, không phát sinh ổ gà, đường êm thuận, thoát nước tốt. Không để nước đọng trên mặt đường…” Cuối tháng ban nghiệm thu của cơ quan cùng đơn vị hạt, đội tổ chức kiểm tra, nghiệm thu công việc giao khoán. Đánh giá chất lượng tiêu chuẩn và tính toán chi trả chế độ lương cho công nhân lao động đồng thời tiếp tục giao khối lượng công việc cho tháng sau.
Qúa trình giao nhiệm vụ tổ chức sản xuất phù hợp theo mùa vụ, thời tiết. Xác định các đoạn, tuyến, vị trí trọng điểm cần làm trước, nhằm hạn chế thấp nhất sự xuống cấp nhanh của đường xá, cầu, kè, cống… Trong công tác bảo dưỡng chủ yếu vận dụng vật liệu sẵn có tại chỗ, cử công nhân tuần đường, phối hợp với lực lượng an ninh, xung kích ở địa phương tham gia bảo vệ đường xá và các công trình giao thông.
* Công tác sửa chữa vừa, lớn và xây dựng cơ bản
Căn cứ chỉ tiêu, nhiệm vụ kế hoạch được giao, sau khi xem xét kỹ hồ sơ thiết kế kỹ thuật cơ quan giao nhiệm vụ cho đơn vị hạt, đội có đủ năng lực thi công. Lập phương án tổ chức thi công, thành lập ban chấp hành thi công, cử cán bộ có năng lực giám sát và chỉ đạo kỹ thuật, cử cán bộ chuyên quản lý và theo dõi về vật tư, tài chính, phương tiện vận tải máy móc thiết bị, đảm bảo thi công các công trình được an toàn.
Quá trình tổ chức thi công theo hồ sơ thiết kế kỹ thuật dự toán được duyệt. Căn cứ phương án thi công phòng Kế hoạch lên phương án kế hoạch vận tải, cung ứng các vật tư chủ yếu như nhựa đường, xi măng, sắt thép, nhiên liệu… theo đúng tiêu chuẩn chất lượng và thiết kế kỹ thuật yêu cầu.
Quy định rõ trách nhiệm từng cán bộ trong giám sát và quản lý chỉ đạo thi công các công trình. Sau khi công trình hoàn thành có hội đồng nghiệm thu của cơ quan và các phòng, ban chức năng, ban quản lý công trình của sở cùng đánh giá chất lượng công trình hoàn thành.
Vì luôn luôn coi trọng chất lượng công trình nên những năm qua đơn vị đảm nhận thi công nhiều công trình lớn quan trọng đạt chất lượng kỹ thuật cao.
2/ Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty
Do đặc điểm của ngành là duy tu, sửa chữa và xây dựng cơ bản nên sản phẩm của ngành có tính chất đơn chiếc, kết cấu công trình khác nhau, thời gian thi công dài cho nên việc tổ chức bộ máy quản lý cũng có những đặc điểm riêng phù hợp với yêu cầu của công tác quản lý. Đơn vị đã tổ chức quản lý theo hình thức quản lý tập trung:
+ Giám đốc là người chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác của cơ quan, đồng thời Giám đốc là người chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý cấp trên.
+ Phó giám đốc là người có nhiệm vụ giúp cho giám đốc, điều hành các hoạt động của Công ty.
Ngoài ra trong đơn vị còn có các phòng, ban sau:
+ Phòng tổ chức hành chính: Thực hiện công tác tổ chức quản lý nhân sự trong toàn đơn vị, như quản lý hồ sơ, lý lịch toàn bộ cán bộ, công nhân viên, hồ sơ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, hợp đồng lao động, đơn giá định mức, tiền lương, tiền thưởng… công tác văn thư lưu trữ và công tác bảo vệ an ninh – quốc phòng toàn cơ quan.
+ Phòng kế hoạch kỹ thuật: Quản lý và thực hiện toàn bộ các chỉ tiêu hạng mục công trình sửa chữa vừa và lớn, xây dựng cơ bản do Nhà nước giao hàng năm. Xây dựng kế hoạch định hướng phát triển khoa học kỹ thuật công nghệ cho toàn đơn vị, đáp ứng các yêu cầu về đổi mới khoa học kỹ thuật ứng dụng vào sản xuất.
+ Phòng quản lý giao thông: Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trong các hoạt động sản xuất của Công ty về sửa chữa thường xuyên, đảm bảo giao thông, phối hợp thường xuyên với thanh tra giao thông trong việc đảm bảo an toàn giao thông trên những tuyến đường do đơn vị quản lý.
+ Phòng vật tư: Thực hiện đúng nguyên tắc quản lý vật tư theo quy định của Nhà nước. Việc cung ứng nguyên vật liệu, phụ tùng, công cụ, dụng cụ… phải đầy đủ, kịp thời đảm bảo đúng tiến độ thi công của các công trình.
+ Phòng tài vụ: Làm công tác tài chính, kế toán. Lập kế hoạch tài chính đồng thời theo dõi và thực hiện tiến hành hạch toán, quản lý tiến độ giúp ban lãnh đạo có những quyết định đúng đắn, kịp thời đảm bảo có hiệu quả cao.
đội thanh tra giao thông: Chịu sự chỉ đạo của sở giao thông Yên Bái về việc kiểm tra, giám sát thi công các công trình giao thông do Nhà nước, tỉnh giao cho.
+ Đội xe máy: Có nhiệm vụ vận chuyển nguyên, nhiên vật liệu, máy móc thiết bị… kịp thời cho việc sửa chữa và xây dựng các công trình giao thông.
+ Các đơn vị hạt, đội: Có nhiệm vụ bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên 310 Km đường trung ương và địa phương, bình quân mỗi công nhân quản lý, bảo dưỡng 1 Km đường.
+ Đội công trình: Có nhiệm vụ sửa chữa vừa và lớn, xây dựng các công trình giao thông.
Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý đơn vị
( Sơ đồ trực tuyến)
Ban chấp hành Đảng
uỷ
Tổ chức
đoàn thể
Ban lãnh đạo
Phòng công đoàn
Phòng hành chính
Phòng quản lý GT
Phòng vật tư
Phòng tài vụ
Phòng kế hoạch
Nhìn lại 42 năm xây dựng và phát triển đơn vị đã trải qua bao tháng năm thăng trầm. Từ một đơn vị còn non trẻ đến nay công ty quản lý và xây dưng đường bộ I đã lớn mạnh và luôn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà đã được Đảng và Nhà nước giao cho. Với đội ngũ cán bộ công nhân viên gần 350 người tại 12 hạt, đội, văn phòng, giờ đây toàn đơn vị đã có 22 người có trình độ đại học và cao đẳng và 52 người có trình độ trung cấp. Cơ sở của đơn vị không ngừng được củng củng cố, trụ sở của đơn vị được xây dựng khang trang, trang thiết bị phục vụ cho công tác bảo dưỡng, sửa chữa như máy xúc, máy ủi, máy lu, máy khoan…được đầu tư mua sắm phục vụ cho sản xuất. Chính vì vậy mà 310 Km do đơn vị quản lý, trong đó có 212 Km đường quốc lộ, 98 Km đường địa phương luôn êm thuận. Từ những thành tích trong công tác duy tu sửa chữa các tuyến đường miền núi phía bắc, đến năm 2000 đơn vị danh dự được Chủ tịch nước trao tặng huân chương lao động hạng nhất. Đây thật sự là một phần thưởng cao quý cho sự cố gắng không mệt mỏi của lớp lớp cán bộ công nhân viên trong đơn vị.
II- Tổng quan về thẩm định giá trị máy móc thiết bị
1/ Quy trình thẩm định giá trị máy móc thiết bị
a. Khái niệm
Quy trình thẩm định giá trị là một tập hợp những bước thẩm định giá có tổ chức và logic được sắp xếp với những nguyên tắc cơ bản đã được xác định rõ, nó giúp cho nhà thẩm định giá đưa ra được kết quả thẩm định giá trị máy móc thiết bị đúng đắn và có cơ sở.
Như vậy thẩm định giá cần một quy trình logic để ước tính giá trị thị trường của một loại thiết bị người thẩm định viên thường tuân theo những bước sau.
b. Quy trình thẩm định giá trị
* Bước 1: Xác định mục đích đối tượng thẩm định giá:
Công việc đầu tiên của người thẩm định viên khi được giao nhiệm vụ thẩm định giá là :
+ Tìm hiểu lý do (mục đích) khách hàng thẩm định giá.
+ Xác định chính xác ngày thẩm định giá.mức phí thoả thuận với khách hàng và thời gian hoàn thành báo cáo thẩm định.
+ Hiểu biết về thiết bị, vật tư và quyền sở hữu thiết bị vật tư này thông qua việc khảo sát thực tế qua đó ghi nhận các đặc trương về kĩ thuật, công dụng và các đặc điểm pháp lý của máy móc thiết bị.
+ Trao đổi các điều khoản thật cụ thể,phạm vi trách nhiệm thời gian thẩm định,thời hạn hoàn thành hợp đồng…
* Bước 2: Đặt ra một kế hoạch thẩm định giá:
Lên kế hoạch về số liệu phải thu thập, nhận dạng, mô tả…và lập thời gian biểu cần thiết để làm việc này.
+ Cần có kế hoạch, trình tự thu thập tài liệu trên thị trường làm cơ sở so sánh, ở bước này người thẩm định viên bằng kinh nghiệm và kĩ năng của mình phải lựa chọn nguồn tài liệu đáng tin cậy.
+ Có kế hoạch phân tích tài liệu thu thập được,tài liệu nào có thể sử dụng được và tài liệu nào không thể sử dụng được.
+ Lập đề cương báo cáo thẩm định,lựa chọn hình thức báo cáo thích hợp đối với từng loại tài sản.
+ Lập tiến đọ thực hiện kế hoạch phù hợp để hoàn thành báo cáo đúng tiến độ của khách hàng.
* Bước 3: Thu thập và phân tích số liệu:
+ Thu thập các thông tin về giá cả ở thị trường trong nước và ngoài nước nếu có đối với máy móc thiết bị nhập khẩu liên quan đến tài sản cần thẩm định giá.
+ Cần phân biệt các nguồn tài liệu, mức độ quan trọng phân theo thứ tự chủ yếu và thứ yếu. Các tài liệu chi tiết về kỹ thuật của tài sản, tài liệu về giá cả kinh tế, thương mại…
+ Phân tích xác minh, so sánh số liệu trong hồ sơ thẩm định với những thông tin thu thập được.
+ Cần lưu ý giữ bí mật thông tin tư các tài liệu thu thập đặc biệt là những tài liệu có thể so sánh sử dụng được cho công tác thẩm định giá.
* Bước 4: Vận dụng số liệu thực tế và phân tích:
+ Bước này cần thiết cho thẩm định giá tài sản đã qua sử dụng, xác định mức độ hao mòn tài sản. Cần xác định các đặc điểm kỹ thuật, tính chất và hiện trạng của tài sản để xác định chất lượng còn lại do hao mòn hữu hình và vô hình .
+ Phân tích cụ thể mức độ tác động của các yếu tố như: lạm phát,cung cầu,tỉ giá có ảnh hưởng đến giá cả của tài sản .
* Bước 5: Chuẩn bị báo cáo thẩm định:
Chuẩn bị báo cáo thẩm định là bước cuối cùng để hoàn thành báo cáo thẩm định giá. Mục đích của bước này là chuẩn bị các thông tin cần thiết nhằm truyền đạt các kết quả thẩm định và kết luận của nhà thẩm định đến người sử dụng thông tin một cách nhanh nhất và có hiệu quả nhất.
* Bước 6: Lập báo cáo thẩm định giá :
+ Báo cáo thẩm định giá là sản phẩm cuối cùng của toàn bộ công việc thẩm định giá, kết thúc bước này thẩm định viên cần thông báo bằng văn bản kết quả thẩm định giá bằng văn bản của mình đến với khách hàng. Một khi báo cáo thẩm định giá được khách hàng chấp nhận có nghĩa là kết quả thẩm định giá có thể sử dụng cho mục đích của khách hàng.
+ Tổng hợp số liệu, sử dụng phương pháp thẩm định giá thích hợp.
3 phương pháp thẩm định giá cơ bản hay được sử dụng là:
- Phương pháp so sánh thị trường.
- Phương pháp chi phí .
- Phương pháp thu nhập.
Lúc này người thẩm định giá đã có một giá trị ước tính, người thẩm định giá có thể sử dụng thêm một phương pháp khác để kiểm tra lại và hỗ trợ cho phương pháp chính đã được sử dụng.
Kết quả tính toán cuối cùng được ghi vào báo cáo cho khách hàng, báo cáo này đưa ra bằng chứng và giải thích ý kiến cuối cùng của người thẩm định.
c. Nội dung quy trình thẩm định
Phân tích một số nội dung cần thiết:
* Nhận dạng:
+ Mục đích :
- Thẩm định viên nắm được hiện trường thiết bị cần thẩm định,quan sát được sơ đồ bố trí máy móc, hoạt động của máy móc, dây chuyền thiết bị.
- Trực tiếp làm chủ việc với chủ vận hành máy qua đó có thể khai thác nhiều thông tin cần thiết về máy móc thiết bị cần thẩm định .
- Có thể thấy được bất kì chi tiết máy móc thiết bị bất thường nào để sau đó có thể thảo luận được.
* Mô tả:
Mỗi thẩm định viên sẽ mô tả máy móc thiết bị rất khác nhau tuỳ thuộc vào việc họ được đào tạo như thế nào và mức độ dày dạn kinh nghiệm đến đâu. Yêu cầu mô tả máy móc thống nhất tư đầu đến cuối báo cáo dễ đọc, dễ hiểu. Nếu thẩm định máy dùng trong sản xuất thì báo cáo phải thực hiện theo quy trình sản xuất.
III- Các phương pháp thẩm định giá máy móc thiết bị
Trước khi nghiên cứu các phương pháp thẩm định máy móc thiết bịthì chung ta cần thiết phải hiểu rõ về khấu hao máy móc thiết bị làm cơ sở nghiên cứu phương pháp thẩm định giá.
1/ Khấu hao máy móc thiết bị
Như chúng ta đã biết trong quá tình sản xuất ra của cải vật chất máy móc thiết bị là tài sản cố định của doanh nghiệp, có thể tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh .Trong quá tChương I: Tổng quan về Thẩm định giá và cơ sở lý luận về Thẩm định giá trị máy móc thiết bị
Chương II: Quá trình hình thành và phát triển của cơ quan thực tập, tổng quan về thẩm định giá trị máy móc thiết bị
Chương III: Xác định lại giá trị MMTB phục vụ cho việc mua, bán, chuyển nhượng và thanh lý của doanh nghiệp
Chương I: Tổng quan về Thẩm định giá và cơ sở lý luận về Thẩm định giá trị máy móc thiết bị
Phần 1: Tổng quan về Thẩm định giá
Phần 2: Cơ sở lý luận về Thẩm định giá trị máy móc thiết bị ( MMTB)
Những tài liệu gần giống với tài liệu bạn đang xem
📎 Số trang: 30
👁 Lượt xem: 503
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 71
👁 Lượt xem: 166
⬇ Lượt tải: 7
📎 Số trang: 68
👁 Lượt xem: 575
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 73
👁 Lượt xem: 439
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 58
👁 Lượt xem: 301
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 82
👁 Lượt xem: 139
⬇ Lượt tải: 8
📎 Số trang: 53
👁 Lượt xem: 418
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 50
👁 Lượt xem: 402
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 46
👁 Lượt xem: 31
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 31
👁 Lượt xem: 1732
⬇ Lượt tải: 19
📎 Số trang: 52
👁 Lượt xem: 619
⬇ Lượt tải: 16
📎 Số trang: 71
👁 Lượt xem: 492
⬇ Lượt tải: 16
Những tài liệu bạn đã xem
📎 Số trang: 57
👁 Lượt xem: 492
⬇ Lượt tải: 16